Công tác chính trị
Những bước đi vững chắc trên chặng đường đầu tiên
QĐND - Thứ Sáu, 05/02/2010, 0:4 (GMT+7)

Mục tiêu làm cách mạng dân tộc dân chủ tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa được Đảng ta khẳng định từ Chính cương vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc công bố tại Hội nghị thành lập Đảng tại Cửu Long, Trung Quốc.

Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Đại hội IV của Đảng đã đề ra đường lối chung và đường lối xây dựng kinh tế cho thời kỳ cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Tiếp theo, Đại hội V đã đi sâu vào lý giải về thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Đại hội V yêu cầu chẳng những phải phân biệt “thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” với các thời kỳ “đã xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội” và “thời kỳ phát triển chủ nghĩa xã hội lên chủ nghĩa cộng sản” mà còn phải phân biệt những chặng đường khác nhau trong thời kỳ quá độ. Với tính cách là một thời kỳ chuyển tiếp từ chế độ tư bản (hoặc tiền tư bản) sang chế độ XHCN, một thời kỳ cải biến cách mạng, trong đó chế độ cũ tuy đã bị đánh bại nhưng chưa thể bị tiêu diệt, chế độ mới tuy đã ra đời, nhưng còn rất non yếu, nên tất yếu phải tồn tại nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu, quan hệ tác động lẫn nhau dưới sự chỉ đạo của nhà nước XHCN, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Về tính tất yếu của “nhiều bước quá độ” trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Lê-nin đã viết rõ: “Làm thế nào để trên thực tế thực hiện được bước quá độ từ chủ nghĩa tư bản đã quen thuộc mà mọi người đã từng biết sang CNXH mới chưa hình thành hẳn, chưa có một cơ sở vững chắc, đó là nhiệm vụ khó nhất. Trong trường hợp tốt nhất thì bước quá độ ấy cũng chiếm mất nhiều năm. Suốt cả thời kỳ đó, trong chính sách của chúng ta lại chia ra nhiều bước quá độ nhỏ hơn nữa. Và tất cả các khó khăn... tất cả sự khéo léo của chính sách là ở chỗ biết tính đến những nhiệm vụ đặc thù của từng thời kỳ quá độ đó”(1).

Từ một nước tiểu nông, bỏ qua chế độ tư bản quá độ lên CNXH, nước ta nhất thiết phải trải qua nhiều chặng đường mà Đại hội V đã chỉ rõ “chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta” trước mắt là “chặng đường tiếp tục xây dựng CNXH và cải tạo XHCN, tăng cường hơn nữa sự nhất trí về chính trị và tinh thần của nhân dân, giảm bớt và khắc phục khó khăn, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, chặn đứng và loại trừ các biểu hiện tiêu cực, đạt những tiến bộ quan trọng trong mọi lĩnh vực, tạo ra thế cân đối mới của nền kinh tế, đồng thời chuẩn bị cho những bước tiến vững chắc và mạnh mẽ trong chặng đường tiếp theo”(2). Dựa vào những đặc điểm nhiều mặt của nền kinh tế tiểu nông, Đại hội V đã xác định những đặc điểm về kinh tế, chính trị, văn hóa tư tưởng thời kỳ quá độ in dấu ấn sâu sắc ở chặng đường đầu tiên, những nhiệm vụ của thời kỳ quá độ trước hết phải được quán triệt từ trong chặng đường đầu tiên, và còn nhấn mạnh rằng chặng đường đầu tiên đó phải tương đối dài thì mới thực hiện được yêu cầu cơ bản nhất là tích lũy ban đầu cho sự nghiệp công nghiệp hóa XHCN.

Đại hội VI nêu cao tinh thần tự phê bình, nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật trong việc đánh giá thực trạng của đất nước đề ra đường lối đổi mới toàn diện, thực hiện chặng đường đầu tiên bằng “phương hướng mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 1986-1990”, đề ra 3 chương trình kinh tế lớn là sản xuất lương thực, thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, sản xuất hàng xuất khẩu… Với Đại hội VII, cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tiếp tục khẳng định: “Quá độ lên CNXH ở nước ta là một quá trình lâu dài trải qua nhiều chặng đường… Mục tiêu của chặng đường đầu tiên là thông qua đổi mới toàn diện, xã hội đạt tới trạng thái ổn định vững chắc, tạo thế phát triển nhanh ở chặng đường sau”(3). Các Đại hội sau chỉ đi sâu hơn, không hề đi chệch khỏi con đường đó. Những dữ liệu trên đây chứng minh rằng trong suốt mấy nhiệm kỳ Đại hội, Đảng ta vẫn nhất quán thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới do Đại hội V đề ra: Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, trong đó nhiệm vụ chiến lược thứ nhất nhất thiết phải kinh qua một thời kỳ quá độ có nhiều chặng đường không thể rút ngắn, và khi còn ở những chặng đường đó thì mọi trạng thái về kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng đều còn in đậm dấu ấn của một thời chuyển tiếp, chưa thể bắt nó mang đầy đủ bản chất xã hội chủ nghĩa của thời kỳ đã phát triển cao, nếu không muốn tái diễn những bài học về sự nóng vội đốt cháy giai đoạn, thực chất là những dạng khúc mới của… bệnh ấu trĩ “tả khuynh” trong phong trào cộng sản.

Trong “chặng đường đầu tiên” ấy, Đảng ta chẳng những đã điều chỉnh được những hậu quả của những sai lầm nóng vội trong cải tạo XHCN, thúc đẩy quan hệ sản xuất mới ra đời một cách tràn lan, gây thiệt hại cho những cơ sở đầu tiên của sản xuất hàng hóa mà còn sớm đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, xây dựng được những cơ sở vật chất-kỹ thuật rất trọng yếu cho sự nghiệp Công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước (như các công trình điện lực cả thủy điện và nhiệt điện, cả sản xuất và phân phối; các công trình giao thông vận tải đường bộ, đường thủy, đường không; công nghiệp khai thác dầu và hóa dầu, khai thác và chế biến khoáng sản…), từng bước hình thành nền kinh tế hàng hóa thỏa mãn tiêu dùng trong nước và phục vụ xuất khẩu, gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) một cách chủ động và có hiệu quả, hình thành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đưa hàng hóa Việt Nam chiếm lĩnh thị phần trên nhiều thị trường khó tính, từng bước giải quyết vấn đề “nông thôn nông nghiệp nông dân”. Về đối ngoại, từ một nước thoát khỏi bao vây cấm vận, chỉ trong vòng vài thập kỷ đã khôi phục và thiết lập quan hệ ngoại giao và trở thành đối tác đáng tin cậy của hầu hết các nước lớn trên thế giới, trở thành nước có vị trí nòng cốt trong khối ASEAN, thành viên tin cậy của Liên Hợp quốc, từng được tín nhiệm làm chủ tịch không thường trực của Hội đồng Bảo an, được thế giới thừa nhận là đất nước có thiện chí, thực sự muốn là bạn với các nước tiến bộ, là thị trường đầu tư ổn định và có tiềm năng. Cách đây vài chục năm, thế giới mới biết đến Việt Nam như “một cuộc chiến tranh quyết liệt chống đế quốc đầu sỏ” thì ngày nay nhiều nước đã biết đến Việt Nam là một nước có nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc lâu đời, mà mọi bước phát triển trên từng mặt chỉ là những biểu hiện sinh động của nền văn hóa lâu đời đó.

Về đối nội, chẳng những duy trì được nền chính trị ổn định mà còn xúc tiến cải cách hành chính, luật hóa nhiều lĩnh vực hoạt động để xây dựng nhà nước pháp quyền, mở rộng quyền phản biện của các đoàn thể chính trị xã hội trong Mặt trận Tổ quốc, nâng cao quyền làm chủ của nhân dân, từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, xử lý công khai, đúng luật pháp và thông lệ quốc tế đối với từng vụ việc, thường xuyên xuất hiện trong các chế độ dân chủ, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư và sản xuất phát triển, chính quy hóa, hiện đại hóa từng bước nền quốc phòng tự vệ.

Mới trên chặng đường đầu tiên, Đảng ta đã đưa đất nước từng bước thoát khỏi tình trạng kém phát triển, tạo điều kiện để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, thực sự tạo cho đất nước vị thế mới, những nguồn lực mới và mối thiện cảm lớn trong lòng nhân loại tiến bộ, Thủ đô Hà Nội được công nhận là thủ đô Hòa bình…

Điều cơ bản để quá độ lên chủ nghĩa xã hội không phải là thiết lập chế độ sở hữu công cộng và tập thể một cách tràn lan, mà chính là giải phóng triệt để sức lao động và trí tuệ các tầng lớp nhân dân tạo ra năng suất lao động cao hơn nền sản xuất nhỏ gấp nhiều lần. Chống lại chế độ “người bóc lột người” có hiệu quả, nhất là thu hẹp, tiến tới xóa bỏ nạn nghèo đói là nguyên nhân sâu xa của mọi chế độ bóc lột.

Tập trung mọi nỗ lực thực hiện đầy đủ “ham muốn tột bậc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, làm cho nước nhà được độc lập thống nhất, toàn thể đồng bào, ai cũng có cơm ăn áo mặc, cũng được học hành, đó chính là thực hiện tốt chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng ta đang bước đi từng bước vững chắc và cũng không nên ảo tưởng những yêu cầu cao xa nào khác.

Thiếu tướng, GS BÙI PHAN KỲ

------------------------------------------ 

(1) Lê-nin toàn tập, tập 10. Nxb Tiến Bộ Mát-xcơ-va 1977, tr.119-120. 

(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb Sự thật H.1982, tr.51.

(3) Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nxb Sự thật H.1991, tr.11.

Họ và tên:
Email:
Tiêu đề:
Mã xác nhận:

Nội dung
Gõ tiếng việt :    Off   Telex   VNI   VIQR
 
Các tin khác