Bức tranh - con người và sáng tạo
Yếu tính của một bức tranh tự nó hiện bày khỏi cần triết lí, văn vẻ lôi thôi. Bàn về tranh tức là không vẽ tranh. Nghệ thuật không hiểu tranh là tranh, họ đọc sách về tranh rồi ức đoán ra. Xem tranh chứ đừng diễn giải tranh.
Ai cũng nói rằng một bức hình đáng giá ngàn lời. Nói như thế là nói bóng gió. Nói và vẽ không giống nhau. Ta chỉ ví von thôi.
Lịch sử Mĩ thuật quả cũng đã giúp chúng ta hiểu đại lược về khả năng sáng tạo và cuộc đời nghệ sĩ, nhưng không bàn tới được vận chuyển sáng tạo trong tranh. Qua lịch sử chúng ta thấy yếu tính của hội hoạ bị bao phủ bởi những vấn đề như đạo đức, tôn giáo, chính trị và tâm linh. Đây là những chuyện chẳng ăn nhằm gì tới yếu tính của hội hoạ.
Dù cho tranh trình bày một đề tài tôn giáo, giá trị cao của tranh không phải là tôn giáo. Tranh là một sáng tạo siêu việt. Tranh cho chúng ta thấy ngay cấu trúc của tranh. Đó là mầu sắc, hình thể và đường nét. Vẽ là vẽ theo ngôn ngữ của tranh. Yếu tính của tranh nằm trong vận hành sáng tạo của tranh.
Nếu một hoạ sĩ bàn về một công án rồi ví với tác phẩm của mình, người ấy chỉ cho ta thấy cái gọi là “trí thức” và “những suy tư kì bí” mà thôi, chúng không trưng ra được lẽ tương giao của Thiền và tranh. Đừng bàn cái nọ lọ xọ cái kia, vì không ai hiểu được chuyện gì mình muốn nói. Ta nhìn tranh chứ ta không nghe tranh. Đã thấy thì nói làm gì! Đây là ý của Wittgenstein.
Bàn về cái này mà lại nói về cái khác là chẳng bàn gì hết và chỉ tổ gây ra hiểu lầm mà thôi.
Nếu Đạo sinh tranh thì khi bí cứ dở Đạo hay Kinh dịch ra coi. Nếu thế thì chúng ta chỉ cần một cuốn Chỉ nam Hội hoạ phân phát cho quần chúng dùng. Khốn nỗi. Cuốn Chỉ nam ấy toàn là những lời bàn dựa trên một đức tin. Trật tự luân lí và xã hội phải cần chỉ đạo, nhưng trong sáng tạo không có vấn đề chỉ đạo. Hơn nữa, chúng ta đâu có giải quyết được mọi chuyện trên đời, vì loài người có nhiều ý thức hệ, ý thức hệ nào cũng có phần cuồng tín.
Tranh cho ta thấy cách làm tranh và con người sáng tạo ra tranh, tức là kiến thức, thông minh, trí thức và tình cảm của người đó. Hoạ sĩ này vẽ tranh phức tạp như mạng nhện. Hoạ sĩ kia vẽ tranh giản dị như một hình vuông. Sự thật cả hai đều không thấy cái dạng trong mỗi loại tranh.
Đứng trên lập trường bản-ngã, chúng ta không thích “dạng” tranh. Nhưng tranh nào cũng trưng ra những “dạng” khác nhau và giống nhau. “Dạng” không phải bỗng nhiên từ trời rơi xuống. “Dạng” đến khi có rất nhiều hiện tượng giống nhau. Cái “dạng chung chung” làm phiền lòng người có tinh thần sáng tạo. Nhưng đập tan cái dạng chung chung” không phải là chuyện dễ. Đập tan mọi khái niệm có thể đưa nghệ sĩ về thủa hoang sơ. Nhưng trong hoang dã chỉ có con vật mới có khả-năng sinh tồn. Đây là điều Hegel thường nói. Đâu phải chỉ có trong khoa học kiến thức tích luỹ dần dần. Ngay trong nghệ thuật chúng ta cũng bàn về sự tích luỹ của kiến thức. Chỉ có điều khác nhau là trong khi kiến thức của khoa học được thực chứng rõ ràng thì kiến thức trong nghệ thuật chồng chéo phức tạp. Do đó nói về vẽ là một việc làm mệt mỏi.
Chúng ta chỉ có thể vượt lên cao hơn trong kĩ thuật hội hoạ, nhưng chúng ta không thể vượt lên trên hội hoạ. Friedrich Waismann, một triết gia trong toán học đã nhận định rằng, “Chúng ta tạo ra hệ thống số, nhưng chúng ta không có lựa chọn nào khác hơn. Luôn luôn có cái gì đó hướng dẫn chúng ta. Thế thì, tuy chúng ta tạo ra hệ thống số, mà kì thực chúng ta lại không thể tạo ta hệ thống số. Điều làm cho chúng ta băn khoăn là rõ ràng chúng ta không thể nào nắm vững được sự chuyển động của hệ thống số. Nói chung, trong toán học là thế. Thế mới biết sáng tạo mạnh hơn con người sáng tạo.
Là một triết gia trong phái Thực chứng, Waismann thấy rằng mọi ý niệm, đặc biệt là ý niệm trong toán học đều do suy tưởng của con người. Ông đã nói rằng, lý thuyết duy nhiên ở cấp cao hơn trong toán học đã thay đổi từ Plato cho tới thời đại mới, qua ba cách diễn tả như sau: a) Plato cho rằng "Thượng đế sinh ra hình học”; b) C. G. Jabobi lại bảo, “Thượng-đế không bao giờ sinh ra hình-học”; c) Dedekind phán một câu nổi tiếng, “Chính con người sinh ra hình-học.”
Tôi cho rằng mọi thứ gọi là sáng tạo của con người đều dựa trên nền tảng của những cơ cấu căn bản mà ta thấy đó đây. Nhưng tôi không thể bảo những cơ cấu ấy được chi phối bởi một trật tự huyền bí. Không phải vì tôi không thích những gì huyền bí, mà chỉ vì tôi không có khả năng hiểu và bàn về một trật tự siêu nhiên.Và tôi lại tin rằng cuộc đời đâu có giống những gì chúng ta khao khát. Thành công hay thất bại, rủi may, xấu tốt không luôn luôn dính dáng gì tới tài năng, công việc và danh đức của chúng ta.Ngoại trừ những hình thái sinh hoá, cuộc đời khởi đầu bằng những ý niệm do con người tạo dựng. Cả hai cơ năng sinh hoá và ý niệm của con người đều giới hạn và tuỳ thuộc vào lẽ đổi thay. Do đó, con người tranh đấu không chỉ để giải phóng chính mình, cho mình trở nên cao quí, mà cũng là để cố gắng đừng đụng phải những ý niệm do con người bày đặt làm cho cuộc đời khốn khổ.
Hội hoạ và những nghệ thuật khác không chỉ có khả năng giúp nghệ sĩ thấy rõ kiến thức của mình chả ra gì trước sáng tạo, mà bất ngờ còn cho nghệ sĩ thấy vực thẳm của ảo tưởng và u mê. Hội hoạ không cần tới phạm trù luân lí, nhưng cần đạo đức và thẩm mĩ - để nâng cao thái độ sống, tư cách và khả năng sáng tạo của hoạ sĩ. Càng nhiều sáng tạo càng lắm bi quan. Bi quan không phải vì thế gian con người tạo ra cho riêng mình, mà vì thế gian trong đó con người đang sống. Tuy nhiên, chúng ta vui, sống, mạnh và trở nên can đảm là nhờ sáng-tạo.
Nguyễn Quỳnh dịch theo Donald Klein